Phân tích kỹ thuật - TA - phần 2

3. Lý thuyết sóng Elliot

Ralgh Nelson Elliot (1871-1984) được xem là người đầu tiên ứng dụng chuổi Fibonacci như một công cụ phân tích đầu tư đáng tin cậy để phát triển lý thuyết sóng mang tên mình.

Mô hình cơ bản

  1. Sóng 1 (sóng tiến): Một sóng đi lên nằm trong xu hướng tăng.
  1. Sóng 2 (sóng lùi): Một sóng đi xuống ngược với xu hướng đi lên của sóng chính. Sau khi giá tăng lên đáng kể, các nhà đầu tư nhận ra rằng thị trường đã mua quá mức. Cùng thời gian này, sóng 2 tạo ra khi những người mua ban đầu quyết định chốt lời trong khi những người mới tham gia bắt đầu vào vị thế bán. Giá bị đảo chiều, nhưng nói chung không vượt quá xu hướng đi lên ban đầu đã thu hút người mua tại sóng 1.
  1. Sóng 3 (sóng tiến): một sóng đi lên nằm trong xu hướng đi lên của sóng chính. Thông thường sóng 3 là một sóng lớn và sẽ bao gồm 5 sóng nhỏ, sóng 3 thể hiện sự phục hồi mạnh mẽ, khi một số lượng lớn các nhà đầu tư trong sóng 2 nắm được cơ hội mua. Với một số lượng lớn người mua làm cho giá vượt cả đỉnh được tạo lập tại sóng 1.
  1. Sóng 4 (sóng lùi): Một sóng thứ cấp đi xuống ngược với xu hướng đi lên của sóng chính. Người mua bắt đầu mệt mỏi và muốn thu hồi lợi nhuận nhằm phản ứng với tín hiệu mua quá mức. Nói chung, vẫn có một số lượng đáng kể người mua, vì thế sự sụt giá ở đây là tương đối thấp.
  1. Sóng 5 (sóng tiến): Một sóng thứ cấp đi lên nằm trong xu hướng đi lên của sóng chính. Sóng 5 thể hiện chuyển động sóng cuối cùng trong chuổi sóng này. Tại điểm này, toàn bộ người mua bị hút nhiều bởi sự ham muốn bởi các tín hiệu cơ bản để mua, và đẩy giá lên cao bất thường. Sự lên giá này tạo nên một sóng chuyển động cao hơn trước khi một sự đảo chiều xuất hiện. Mức đỉnh trong sóng 5 thường xảy ra đồng thời cùng với sự phân kỳ của trong chỉ số RSI
  • Sóng A: Sự điều chỉnh để phục hồi. Sóng A xuất hiện một sự điều chỉnh cho phục hồi
  • Sóng B: Điều chỉnh thị trường giá xuống. Sóng B có xu hướng tạo nên một cơ hội để bán khi các nhà đầu tư khác thu về lợi nhuận trong quá trình kinh doanh vị thế mua hoặc để thoát khỏi vị thế mua của họ.
  • Sóng C: Xác nhận sự phục hồi đã kết thúc. Sóng C là sóng cuối cùng của chu kỳ. Tại điểm này, sóng 3 thường phá vỡ đường chống đỡ chính và hầu hết các thông số của phân tích kỹ thuật đều xác định rằng sự phục hồi đã kết thúc.
Sóng trong sóng:
  • Thị trường lên có 5 sóng: 3 sóng chính và 2 sóng phụ. Mỗi sóng chính lại chia ra làm 5 sóng nhỏ. Sóng phụ thì chia làm 3 sóng nhỏ
  • Thị trường xuống vẫn có 3 sóng: 2 sóng chính và 1 sóng phụ. Mỗi sóng chính lại chia ra làm 5 sóng nhỏ, sóng phụ chỉ chia ra làm 3 sóng nhỏ.

Nguyên tắc đếm sóng:
  • Bước sóng 2 không được lùi quá 100% bước sóng 1
  • Sóng 4 không được lùi về mức cao nhất của sóng 1
  • Sóng 3 phải là sóng tiến dài nhất.

4. Lý thuyết Fibonacci

Dãy số Fibonacci: 1,1,2,3,5,8,13,21,34,55,89,144,…

Quy luật của dãy số:

  • Dãy số Fibonacci tuân theo công thức: P(n)=P(n-1) +P(n-2)
  • Nếu lấy 3 số bất kỳ liền kề nào, thì chênh lệch giữa bình phương số ở giữa tích của 2 số ở 2 bên luôn bằng 1
  • Nếu lấy 4 số bất kỳ liền kề nào thì tích của 2 số ngoài cùng luôn lớn hơn hoặc nhỏ hơn tích của 2 số ở giữa 1 đơn vị
  • Tổng số của 10 số bất kỳ kế tiếp nào sẽ luôn luôn bằng với tích của số thứ 7 của dãy 10 số này nhân với 11.
  • Tỉ số giữa những số cạnh nhau luôn có xu hướng tiến về một hằng số là 0.618 gọi là “phi”
  • Nghịch đảo của số này hoặc 1+ “phi” có giá trị 1.618.
  • 0,618 và 1.618 có ý nghĩa gì?
  • Cánh của những bông hoa, vỏ ốc, quĩ đạo của những hành tinh và chức năng sihh lý con người… đều liên quan chặt chẽ đến những số này.
  • Nếu như tỉ số Fibonacci rất phổ biến trong tự nhiên thì nó cũng sẽ có ý nghĩa trong thị trường tài chính, nơi mà cuối cùng vẫn là sự phản ánh hành vi tự nhiên của con người.
  • Khi sử dụng phân tích kỹ thuật, tỷ số Fibonacci thường được diễn giải theo 3 giá trị phần trăm: 38.2%, 50%, và 61.8%. Nhiều tỷ lệ khác có thể được sử dụng khi cần thiết, như 23.6%, 161.8%, 423%... Có 4 phương pháp chính trong việc áp dụng dãy Fibonacci trong tài chính: Retracements, Arcs, Fans, và Time Zones.
  • Fibonacci Arcs (FA): được thiết lập đầu tiên bằng cách vẽ đường thẳng kết nối 2 điểm có mức giá cao nhất và thấp nhất của giai đoạn phân tích. 3 đường cong sau đó được vẽ với tâm nằm trên điểm có mức giá cao nhất và có khoảng cách bằng 38.2%, 50.0%, 61.8% độ dài đường thẳng thiết lập
  • FA dùng để dự đoán mức hỗ trợ và kháng cự khi đồ thị giá tiếp cận với đường cong. Một kỹ thuật phổ biến là theo dõi cả hai đường FA, FF (Fibonacci Fan) và dự đoán mức hỗ trợ/kháng cự tại điểm giao giữa đồ thị giá và đường FA/FF.
  • Đồ thị giá của Đồng Bảng Anh mô tả cách mà đường FA tìm ra các điểm hỗ trợ và kháng cự (điểm A, B, C)
  • Fibonacci Fan (FF): được vẽ bằng cách kết nối hai điểm giá cao nhất và thấp nhất của giai đoạn phân tích. Sau đó một đường thẳng đứng “vô hình” sẽ được vẽ qua điểm giá cao nhất. Tiếp theo đó 3 đường chéo sẽ được vẽ từ điểm giá thấp nhất cắt đường thẳng đứng “vô hình” tại 3 mức 38.2%, 50.0%, 61.8%.
  • Đồ thị sau của Taxaco cho thấy các ngưỡng hỗ trợ/kháng cự trên đường FF 
  • Bạn có thể thấy khi đồ thị giá gặp đường FF cao nhất (điểm A), đồ thị giá không thể vượt qua đường FF trong nhiều ngày. Khi giá vừa vượt qua đường FF, nó liền rớt nhanh chóng đến điểm đáy trên đường FF thứ 3 (điểm B và C) trước khi tìm được ngưỡng hỗ trợ. Cũng lưu ý rằng khi giá di chuyển qua điểm đáy (điểm C), nó di chuyển một mạch tới điểm cao nhất (điểm D) trên đường FF thứ 1 và cũng là điểm kháng cự, sau đó rơi xuống điểm giữa trên đường FF thứ hai (điểm E) trước khi đổi chiều đi lên.
  • Fibonacci Retracements (FR): được xác định trước tiên bằng cách vẽ đường thẳng nối kết giữa hai điểm giá cao nhất và thấp nhất của đồ thị giá trong giai đoạn phân tích. Một loạt 9 đường nằm ngang sau đó được vẽ lên tại các mức Fibonacci 0.0%, 23.6%, 38.2%, 50%, 61.8%, 100%, 161.8%, 261.8%, và 423.6% tương ứng với chiều cao tính từ điểm giá cao nhất đến thấp nhất (một số đường có thể không được vẽ ra khi nằm ngoài quy mô phân tích của đồ thị)
  • Sau mỗi giai đoạn biến động giá chính (có thể lên hoặc xuống), giá thường có xu hướng đảo ngược xu hướng (toàn bộ hoặc một phần). Khi giá đảo chiều, các ngưỡng hỗ trợ hoặc kháng cự mới thường nằm trên hoặc gần đường FR (xem đồ thị - ngưỡng hỗ trợ và kháng cự xuất hiện tại đường Fibonacci 23.6% và 38.2%)
  • Fibonacci Time Zones: bao gồm một loạt các đường thẳng đứng. Sắp xếp theo trật tự của dãy Fibonacci 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, … Cũng như các đường khác, diễn biến thay đổi của giá thường có mức hỗ trợ/kháng cự nằm gần hoặc trên các đường thẳng đứng này. 
  • Các kết quả nghiên cứu về Fibonacci này không có ý định làm kim chỉ nam cho việc xác định thời gian xâm nhập hoặc thoát ra khỏi thị trường. Tuy nhiên, nó có thể hữu ích trong việc xác định vùng hỗ trợ và kháng cự. Đa phần các nhà đầu tư sử dụng kết hợp cả 4 phương pháp Fibonacci này để có thể đưa ra các mức dự đoán chính xác hơn. Một nhà phân tích có thể chỉ sử dụng Fibonacci Arcs và các điểm giao tại vùng hỗ trợ hoặc kháng cự. Nhiều người khác kết hợp các nghiên cứu về Fibonacci với các dạng thức phân tích kỹ thuật khác như “lý thuyết sóng Elliot” để dự đoán mức độ đảo ngược xu hướng sau mỗi bước sóng khác nhau. 
1.3.4. Đồ thị nến Nhật (candle stick)

Ứng dụng của nến Nhật

  • Nắm bắt được tâm lý của thị trường, trả lời cho câu hỏi: “Thị trường đang nghĩ gì?”
  • Biểu diễn được nhiều hành động giá khác nhau, từ đó xác định được xu hướng giá sẽ được củng cố hoặc sắp có sự đảo chiều.
  • Kết hợp với các công cụ PTKT khác, giúp xác định tốt điểm vào và thoát khỏi vị thế giao dịch.

5. Các công cụ chỉ báo khác

5.1. Đường xu hướng (Trendline).

Đường xu hướng cho thấy một thay đổi nhất quán trong biến động giá (có ý nghĩa là thay đổi trong kỳ vọng nhà đầu tư).

5.2. Đường trung bình di động (Moving Average):
  • Khoảng thời gian phổ biến được dùng trong trung bình trược là 10, 20, 50, 200.
  • Trong xu hướng giá lên, đường SMA ngắn hạn phải nằm trên đường SMA dài hạn, và giá hiện tại phải nằm trên đường SMA.
  • Mua vào khi đường xu hướng mạnh hướng trở lại đường trung bình trượt
  • Mua vào tại điểm cắt nhau của các đường MA

5.3. Dãi băng Bollinger (Bolinger bands):

Được phát triển bởi John Bollinger, công cụ này bao gồm:

  • Một đường trung bình di động 20 kỳ.
  • Một đường thể hiện 2 độ lệch chuẩn nằm phía dưới của đường MA 20 chu kỳ.
  • Khi giá chạm vào đường biên độ trên, thị trường được xem là quá mua (overbought), ngược lại tại biên độ dưới là quá bán (oversold)
  • Khi dãi Bollinger bị thu hẹp thì đó là tín hiệu cho thấy giá cả sắp có một đợt bức phá.

5.4. Momentum:
  • Chỉ số momentum đo lường tốc độ thay đổi giá, được sử dụng như một chỉ báo sự thay đổi trong xu hướng giá.
  • Đường momentum cắt đường 0 ở phía trên thì mua vào và ở phía dưới thì bán ra.
  • Momentum phát huy tốt ở thị trường mà giá cả biến động theo xu hướng.
  • 1.3.5.5. Chỉ số sức mạnh tương đối RSI (relative Strength Index)
  • RSI chính là đường momentum được cải biến. RSI làm mượt đường momentum bằng công thức:
  • RSI = 100 – [100/(1+RS)]
  • RS = Giá đóng cửa trung bình các ngày tăng trong x ngày/Giá đóng của các ngày giảm trong x ngày (thông thường chọn x = 14)
  • RSI có giá trị từ 0 tới 100, giá trị này phản ánh tương quan sức mạnh giữa bên mua và bên bán.
  • RSI có 2 mức ngưỡng: 30 (oversold) và 70 (overbought)
  • RSI trên 50 thể hiện giá lên và dưới 50 thể hiện giá xuống.

5.6. Đường trung bình di động hội tụ - phân kỳ (MACD):

Công cụ MACD bao gồm:

  • Đường MACD (MACD line): được tạo ra bởi sự chênh lệch giữa đường trung bình di động sang bằng mũ (EMA) 12 kỳ và 26 kỳ.
  • Đường tín hiệu(MACD signal line): là đường EMA 9 kỳ của đường MACD.
  • Biểu đồ MACD (MACD Histogram): thể hiện sự chênh lệch giữa đường MACD và đường tín hiệu.
  • Khi đướng MACD ở trên đường tín hiệu thì biểu đồ MACD là dương, ngược lại ở dưới là âm.
  • Lưu ý: Tín hiệu mua vào xuất hiện khi hình thành sự phân kỳ dương và biểu đồ MACD vượt trên đường 0. Tín hiệu bán ra khi hình thành sự phân kỳ âm và biểu đồ MACD xuống dưới đường 0
  • Nếu xu hướng dài hạn đang tăng, chỉ xem xét những phân kỳ dương và đường MACD-H vượt qua đường 0.
  • Nếu xu hướng dài hạn đang giảm, chỉ xem xét những phân kỳ âm và đường MACD-H xuống dưới đường 0.

5.7. ADX (Average Directional Index):
  • ADX giao động giữa 0 và 100, cho thấy mạnh hay yếu trong việc hình thành một xu hướng.
  • Nếu ADX>40 cho thấy xu hướng là mạnh, ADX<20 cho thấy giá cả biến động ít có tính xu hướng hoặc giá cả đang giao động ngang.
  • ADX không phải là công cụ chỉ báo xu hướng tăng hay giảm. Vì vậy, ADX thường dùng kèm với 2 đường DMI.
  • Nếu đường DMI+ nằm trên đường DMI – thì giá đang trong xu hướng tăng, ngược lại là giảm.
  • Nếu DMI+ cắt DMI- ở phía trên cho thấy tín hiệu mua vào và ngược lại
Comments