Phân tích kỹ thuật - TA - phần 1

1. Khái niệm phân tích kỹ thuật

Là phương pháp dựa vào biểu đồ, đồ thị diễn biến giá cả và khối lượng giao dịch của cổ phiếu nhằm phân tích các biến động cung cầu đối với cổ phiếu để chỉ ra cách ứng xử trước mắt đối với giá cả, tức là chỉ cho nhà phân tích thời điểm nên mua vào, bán ra hay giữ nguyên cổ phiếu trên thị trường.

Những giả thiết cơ bản mà phân tích kỹ thuật lấy làm cơ sở

• Hành vi của bất kỳ cổ phiếu nào, hoặc của cả thị trường cổ phiếu, đều có thể liên quan đến xu hướng diễn biến theo thời gian, trong đó xu hướng là phương hướng chính đi lên hay đi xuống của cổ phiếu (hoặc cả thị trường cổ phiếu) 

• Biến động giá không phải là ngẫu nhiên mà chúng xảy ra dưới các dạng thức có thể được phân tích để dự đoán biến động tương lai 

• Biến động thị trường được phản ánh tất cả trong giá cổ phiếu 

• Lịch sử được lặp lại do bản chất của con người (nhà đầu tư) là không đổi nên sẽ lặp lại những hành vi giống nhau trước những tình huống tương tự, và điều đó dẫn đến các xu hướng giá cả lặp lại. 

2. Lý thuyết Dow

Lý thuyết Dow là lý thuyết lâu đời nhất và cũng là phương pháp được biết đến nhiều nhất về việc xác định các xu hướng chính trên thị trường chứng khoán. Mục đích của lý thuyết Dow là xác định những thay đổi trong sự dịch chuyển chính hay còn gọi là sự dịch chuyển cơ bản của thị trường. Một khi xu hướng đã được xác lập, thì xu hướng này được giả định sẽ tồn tại cho đến khi có sự đảo ngược xu hướng xảy ra. Lý thuyết Dow liên quan đến phương hướng của một xu hướng và nó không có giá trị dự báo đối với những khoảng thời gian hay phạm vi sau cùng của xu hướng.


Sáu nguyên lý cơ bản của Lý thuyết Dow

2.1 Giá phản ánh tất cả hành động của thị trường

Những thay đổi trong các mức giá đóng cửa hàng ngày phản ánh một cái nhìn tổng hợp và tình cảm của tất cả những người tham gia vào thị trường chứng khoán, cả những nhà đầu tư hiện tại và những nhà đầu tư tiềm năng. Vì thế mà nó được giả định rằng, qui trình này phản ánh tất cả hành động thị trường được biết đến và có thể dự đoán được, điều này có thể tác động đến mối quan hệ cung cầu của cổ phiếu.

2.2. Thị trường có 3 sự dịch chuyển

  • Sự dịch chuyển chính. Sự dịch chuyển quan trọng nhất là xu hướng chính, nói chung sự dịch chuyển này được biết đến như là thị trường đầu cơ giá lênh hoặc thị trường đầu cơ giá xuống. Những sự dịch chuyển này thường kéo dài từ ít hơn một năm đến vài năm.
  • Những phản ánh thứ cấp. Phản ánh thứ cấp hay trung gian được định nghĩa như là “một sự sụt giảm quan trọng trong một thị trường đầu cơ giá lên hoặc một sự tăng giá quan trọng trong một thị trường đầu cơ giá xuống, thường kéo dài 3 tuần đến nhiều tháng, trong suốt thời kỳ này, sự dịch chuyển nhìn chung thoái lùi từ 33 tới 66%  mức thay đổi giá từ điểm kết thúc của phản ứng thứ cấp có trước.
  • Những sự dịch chuyển nhỏ. Sự dịch chuyển nhỏ kéo dài từ vài giờ đến không quá 3 tuần. Nó chỉ quan trọng trong việc hình thành nên một phần của dịch chuyển chính cũng như sự dịch chuyển thứ cấp; nó không  có giá trị dự báo đối với những nhà đầu tư dài hạn. Điều này đặc biệt quan trọng bởi vì các sự dịch chuyển trong ngắn hạn có thể bị thao túng ở mức độ nào đó, không giống như các xu hướng chính hau thứ cấp.

2.3. Những đường xu hướng chỉ ra sự dịch chuyển
  • Dow đã tập trung sự chú ý của mình vào những xu hướng chính, xu hướng mà ông ta cảm thấy thường xảy ra trong 3 giai đoạn riêng biệt: Giai đoạn tích lũy, giai đoạn tham gia công chúng, giai đoạn phân phối.
  • Giai đoạn tích lũy thể hiện việc mua có hiểu biết của hầu hết các nhà đầu tư tinh thông. Nếu xu hướng trước đó là xu hướng giảm, thì tại thời điểm này những nhà đầu tư tinh thông  nhận ra rằng thị trường đã tiêu hóa hết những thông tin “xấu”. Giai đoạn tham gia công chúng, là giai đoạn mà ở đó hầu hết các nhà theo xu hướng phân tích kỹ thuật bắt đầu tham gia vào thị trường, xảy ra khi các mức giá bắt đầu gia tăng một cách nhanh chóng và những tin tức kinh doanh sẽ được cải thiện. Giai đoạn phân phối xảy ra khi các tờ báo bắt đầu đưa tin những câu chuyện thị trường đầu cơ giá lên; khi những tin tức kinh tế trở nên tốt hơn; và khi khối lượng có tính đầu cơ và sự tham gia công chúng gia tăng. Suốt giai đoạn này, những nhà đầu tư có hiểu biết như nhau bắt đầu “tích lũy” đến gần đáy thị trường đầu cơ giá xuống (khi không một ai khác muốn mua) bắt đầu phân phối trước khi bất kỳ một người nào khác bắt đầu bán ra
  • Một sự tăng lên trong giới hạn của “đường xu hướng” này chỉ ra sự tích lũy và những dự đoán giá cao hơn, và ngược lại. Khi đường này xảy ra ở khoảng giữa của sự tăng giá chính, nó sẽ thực sự hình thành nên sự dịch chuyển thứ cấp dưới dạng đường ngang và nó sẽ bị đối sử tương tự.

2.4. Các mối quan hệ giá và khối lượng sẽ tạo ra nền tảng cơ bản

Mối quan hệ cơ bản là khối lượng tăng khi giá phục hồi và thu hẹp khi giá giảm. Nếu khối lượng trở nên ứ đọng khi giá tăng và gia tăng khi giá giảm, thì một lời cảnh báo rằng xu hướng chính có khả năng bị đảo ngược. Nguyên tắc này chỉ được sử dụng như một thông tin nền tảng, bởi vì bằng chứng thuyết phục của sự đảo ngược xu hướng có thể chỉ được đưa ra theo giá của những mức trung bình tương ứng.

2.5. Hành động giá xác định xu hướng

Các dấu hiệu tăng giá được đưa ra khi có những sự tăng giá liên tiếp tạo ra các đỉnh trong khi các đáy của sự giảm giá xen vào là cao hơn đáy trước đó. Ngược lại, các dấu hiệu của sự giảm giá xuất phát từ một chuổi các đỉnh và đáy giảm dần

2.6. Danh mục phải được xác nhận (hai danh mục củng cố lẫn nhau)

Một trong những nguyên tắc quan trọng nhất của lý thuyết Dow là sự dịch chuyển của hai chỉ số bình quân ngành công nghiệp và chỉ số ngành giao thông vận tải nên luôn được quan tâm cùng nhau; nghĩ là hai chỉ số phải củng cố lẫn nhau.

Tóm lại, lý thuyết Dow quan tâm đến việc xác định hướng của xu hướng thị trường, không xác định khoản thời gian sau cùng của xu hướng. Một khi đã được xác nhận xu hướng bởi cả hai chỉ số thì xu hướng mới được giả định là tồn tại mãi tới khi một sự xác nhận lại bởi cả hai chỉ số diễn ra.

Mỗi thị trường giá lên và giá xuống có ba giai đoạn riêng biệt. Cả sự nhận dạng các giai đoạn này và sự xuất hiện bất kỳ sự trái ngược nào trong mối quan hệ khối lượng và giá cả đưa ra nhiều tín hiệu hữu ích rằng một sự đảo ngược trong xu hướng đang diễn ra. Các chứng cứ bổ sung thì đặc biệt hữu ích khi mà hành động của chỉ số giá tự chúng không đi đến kết luận.

Comments